Posts tagged ‘Cây thuốc nam’
Ké đầu ngựa – Cây thuốc có nhiều tác dụng quý
Trong dân gian, Ké đầu ngựa thường được gọi là: Thương nhĩ, Phát ma, Mác nháng. Tên khoa học: Xanthium strumarium L.Họ Cúc: ASTERACEAE.

Ké đầu ngựa là loại cây thảo, sống hàng năm, cao từ 50 – 80cm, ít phân cành. Thân hình trụ cứng, có khía, màu lục, đôi khi có chấm tím, lông cứng. Lá mọc so le, hình tim – tam giác, chia 3 – 5 thuỳ, dài 4 – 12cm; mép khía răng không đều; hai mặt lá có lông cứng. Cụm hoa ở đầu cành hoặc kẽ lá, màu lục nhạt, gồm 2 loại đầu cùng gốc. Đầu trên nhỏ, mang hoa lưỡng tính; những đầu khác mang hoa cái. Quả giả, hình thoi, có móc, dài 12 – 15mm, rộng 7 mm. Mùa hoa, quả vào tháng 5 – 8.
Ké đầu ngựa là loại cây cận nhiệt đới. Ở nước ta, Ké đầu ngựa mọc hoang khắp nơi. Quả, thân, lá được dùng để làm thuốc. Thu hái quả khi chưa ngả vàng.
Ké đầu ngựa có hàm lượng iốt rất cao: Từ 200 – 300 mirogam iốt trên 100g lá hoặc thân cây. Hoạt chất chủ yếu là nhóm Sesquiterpenlacton: Xathinin, Xanthumin, Xanthanin (deacetylxanthinin). Trong lá có Vitamin C (47mg/100g). Lá khô chứa 0,01% tinh dầu màu xanh sẫm; chứa dlimomxen (35%), d. carveol (25%); 1 – ỏ ionon; terpinolen – õ cazyrphyllen; cymen, ỏ – pinen, ngoài ra còn có dầu béo (30 – 35%) ở hạt và ancaloit có độc tính ở lá.
Theo Y học cổ truyền: Ké đầu ngựa vị ngọt nhạt, có tác dụng tiêu độc, sát trùng, tán phong, trừ thấp. Đặc biệt, trị phong hàn, đau đầu, tay chân đau, co rút, phong tê thấp, phong mề đay, lở ngứa, tràng nhạt, mụn nhọt. Còn dùng chữa đau răng đau, họng, bướu cổ, nấm tóc, hắc lào.
Ngày uống 6 – 12g quả hoặc 10 – 16g cành cây, lá dưới dạng thuốc sắc.
Ké đầu ngựa chữa thấp khớp, viêm khớp: Ké đầu ngựa 12g, rễ Cỏ xước 40g, Hi thiềm 28g, Thổ phục linh 20g, Cỏ nhọ nồi 16g, Ngải cứu 12g. Tất cả sao vàng, sắc, nấu uống thường xuyên trong ngày.
Chữa mụn nhọt, chữa lở: Ké đầu ngựa 10g, Kim ngân hoa 20g, làm dạng chè thuốc, đóng 30g/ gói, mỗi ngày uống 1 gói, hãm nước sôi uống cả ngày. Hoặc Ké đầu ngựa 10g, Bồ công anh 15g, Sài đất 10g, Kim ngân hoa 5g, Cam thảo đất 2g. Tất cả bào chế thành dạng chè thuốc, trọng lượng của 1 gói là 42g, mỗi ngày dùng 1 gói, cho hãm nước sôi uống trong ngày.
Chữa đau răng: Sắc nước quả Ké đầu ngựa ngậm nhiều lần rồi nhổ ra.
Chữa viêm mũi dị ứng, tăng tiết dịch: Quả Ké đầu ngựa sao vàng, tán bột, 4 – 7g/ ngày.
Chữa phù thũng chưa rõ nguyên nhân, tiểu tiện ít: Thương nhĩ tử thiêu tồn tính, Đinh lịch, các vị bằng nhau, tán nhỏ, pha với nước uống trong ngày, mỗi lần 8g, uống 2 lần/ngày.
Chữa bướu cổ: Quả Ké đầu ngựa sao vàng, sắc, đun sôi trong 15 – 20 phút, uống 4 – 5g trong ngày.
Ngoài ra, Ké đầu ngựa còn có tác dụng làm giảm cường độ co bóp của tim, giảm thân nhiệt và lợi tiểu. Hoạt chất xanthumin có tác dụng ức chế thần kinh trung ương. Đặc biệt, Ké đầu ngựa còn có tác dụng kháng khuẩn Gram ( – ) và kháng nấm.
Caythuocquy.info.vn
Ngải cứu – Món ăn ngon, cây thuốc quý
Ngải cứu hay còn gọi Thuốc cửu, Ngải nhung. Tên khoa học: Artemisia vulgaris Lis, Họ Cúc (COMPOSITAE).
Ngải cứu hay còn gọi Thuốc cửu, Ngải nhung. Tên khoa học: Artemisia vulgaris Lis, Họ Cúc (COMPOSITAE).

Ngải cứu mọc hoang và được trồng ở khắp nơi. Dùng lá có lẫn một ít cành con và lông nhung. Thu hái vào lúc chưa có hoa (tháng 6).
Ngải diệp: Loại bỏ tạp chất và cành lá úa vàng, thái ngắn, phơi khô (trong râm mát).
Ngải than: Lá Ngải đã chọn sạch, sao đen tới 7 phần, phum giấm; trộn đều (cứ 100kg lá Ngải dùng 15 lít giấm); loại nào chưa thấm phải sào lại, lấy ra hong khô để 2 – 3 ngày. Bảo quản nơi khô ráo, mát mẻ.
Ngải nhung: Lá Ngải sạch phơi khô, để cho mềm, cho vào cối giã kỹ, mịn như nhung là được, bỏ xơ và bột vụn.
Ngải cứu dùng tươi thì rửa sạch, vắt lấy nước uống.
Trong Ngải cứu có tinh dầu tanin. Thành phần chủ yếu trong tinh dầu là thuyon và xineola.
Theo Đông y: Ngải cứu vị đắng, mùi thơm, tính ấm. Điều hoà khí huyết, trừ hàn thấp, ôn kinh, an thai, giảm đau, cầm máu sát trùng.
Kinh nghiệm dân gian vẫn dùng Ngải cứu làm thuốc điều kinh, trong bụng lạnh đau, đi lỵ lâu, ra máu, chữa thổ huyết, đổ máu cam, băng huyết, lậu huyết, đới hạ có thai, chữa thần kinh đau, phong thấp và ghẻ lở. Ngày từ 6 – 12g, sắc hoặc hãm, chia 3 lần uống trong ngày. Uống vào tuần lễ trước dự kỳ có kinh. Có thể uống dạng thuốc bột, ngày 5 – 10g.
Theo “Trung dược tân dụng” , Ngải diệp còn chữa viêm chi phế quản mạn tính.
Ngải diệp 50g; Đường đỏ 100g; Trứng gà 2 quả. Ngải diệp rửa sạch, dùng 500ml nước sạch nấu sôi, cho Trứng gà rửa sạch, Đường đỏ vào nồi nấu Ngải diệp. Khi trứng đã chín, bóc bỏ vỏ, cho vào nồi nấu tiếp để dược trấp (nước thuốc) thấm vào trong quả trứng, sắc còn 200ml, cho Ngải diệp vào, đó là lượng dùng trong 1 ngày. 7 ngày 1 liệu trình.
Theo Hồ chấn hoa, Dược đản liệu pháp tam tắc, Quảng Châu Tân Trung Y 1992
Caythuocquy.info.vn
Rễ đinh lăng có nhiều axit amin không thể thay thế
Đinh lăng hay còn gọi là cây Gỏi cá, có tên khoa học: Polyscias fruticosa (L.) Harms, họ Ngũ gia bì (ARLIACEAE)

Đinh lăng là cây gỗ nhỏ, cao 0,8 – 1,5m, không lông, không gai. Lá kép 3 lần lông chim, dài 20 – 40cm. Lá chét có cuống nhỏ mảnh khảnh dài 3 – 15mm, dạng màng, khía răng không đều, phần nhiều khía hay chia thuỳ, có mũi nhọn, dài 3 – 10cm, rộng 0,6 – 4cm. Hoa nhỏ thành cờ, tán ngắn dài 7 – 18cm. Quả dẹt màu trắng bạc, dài và rộng khoảng 3 – 4mm, dày 1mm, đội các vòi còn lại. Cây ra hoa tháng 4 – 7
Trong rễ có glucozid, alcaloid, saponin triterpen, flavonoid tanin và 13 loại axid amin trong đó có lyzin, xystein, methionin là những axit amin không thể thay thế được. Vitamin B1 trong thân và lá cũng có nhưng ít hơn.
Qua nghiên cứu và thử nghiệm, Viện Y học quân sự đã tìm được từ cây Đinh lăng những tính chất của Nhân sâm: Rễ Đinh lăng có tác dụng làm tăng cường sức dẻo dai và sức đề kháng của cơ thể, chống hiện tượng mệt mỏi, giúp ăn ngủ ngon, tăng khả năng lao động, lên cân và chống độc.
Rễ Đinh lăng được thu hái vào mùa Thu, Đông. Ở những cây đã trồng từ 3 năm trở lên, rễ mềm có nhiều hoạt chất. Rửa sạch, cắt bỏ phần rễ sát với gốc thân, rễ nhỏ thì dùng cả, rễ to chỉ dùng vỏ. Thái nhỏ, phơi khô ở chỗ mát, thoáng gió để bảo đảm mùi thơm và phẩm chất. Khi dùng để nguyên hoặc tẩm rượu gừng 5%, sao qua rồi tẩm 5% mật ong, sao thơm. Dược liệu có vị ngọt, đắng, mùi thơm, tính mát, không độc. Được dùng dưới những dạng sau:
1. Thuốc ngâm rượu: Rễ Đinh lăng khô, không sao tẩm 100g, tán nhỏ, ngâm với 1 lít rượu 30 – 35o trong 7 – 10 ngày. Thỉnh thoảng lắc đều. Ngày dùng 2 lần, mỗi lần 6 – 10ml, uống trước bữa ăn nửa giờ.
2. Thuốc bột và thuốc viên: Rễ Đinh lăng đã sao tẩm 100g, tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống 0,5 – 1g hoặc trộn bột với mật ong vừa đủ, làm thành viên, mỗi viên 0,25 – 0,5g. Ngày uống 2 – 4 viên, chia làm 2 lần.
3. Thuốc hãm: Rễ Đinh lăng đã sao tẩm 5 – 10g, hãm với nước sôi như hãm chè, uống làm nhiều lần trong ngày.
Viện Y học quân sự đã dùng viên bột rễ Đinh lăng cho bộ đội tập luyện hành quân. Kết quả cho thấy khả năng chịu đựng và sức dẻo dai của họ được tăng lên rõ rệt. Các nhà khoa học Việt Nam và Nga cũng nhận thấy rễ Đinh lăng có tác dụng tốt đối với các nhà du hành vũ trụ khi luyện tập.
Ngoài ra, theo Y học cổ truyền, Hải Thượng Lãn Ông đã dùng rễ Đinh lăng sao vàng, sắc cho phụ nữ uống sau khi đẻ để chống bệnh đau dạ con và làm tăng tiết sữa.
Dùng rễ Đinh lăng liều cao sẽ thấy hiện tượng say, mệt mỏi. Lá Đinh lăng được dùng theo kinh nghiệm dân gian để tránh bệnh kinh giật cho trẻ em. Lấy cả lá non và lá già phơi khô đem lót gối hoặc trải giường cho trẻ nằm. Thân và cành Đinh lăng sắc uống với liều 20 – 30g, chữa đau lưng, mỏi gối tê thấp. Dùng riêng hoặc phối hợp với rễ cây Xấu hổ, Cúc tần, Bưởi bung, Cam thảo dây.
Đinh lăng còn được dùng chữa ban sởi, ho ra máu, kiết lỵ. Phối hợp với sữa ong chúa là thuốc bổ rất tốt.
Chú ý: tránh nhầm với cây Đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Bailey, Đinh lăng lá to hay Đinh lăng lá ráng (Polysciasfilicifolia (Merr) Baill, Đinh lăng trổ hay Đinh lăng viền bạc (Polyscias guilfoylei Baill), Đinh lăng đĩa Nothopanax scutellarius (Brrm.f.) Merr, Đinh lăng răng (Polyscias serrata Bail) và loài Polyscias sambucifolia (Sieber) Harms. Những loài này không dùng làm thuốc.
Caythuocquy.info.vn
Trầu cau – thuốc của dân gian
Quả Cau, lá Trầu đã trở nên rất đỗi thân quen với mỗi người dân Việt. Quả cau, miếng trầu không chỉ là đầu câu chuyện, là vật kết nối se duyên cho hạnh phúc trăm năm của mọi lứa đôi…….mà quả Cau, lá Trầu còn là phương thuốc hữu dụng trong mỗi gia đình.
Quả Cau, lá Trầu đã trở nên rất đỗi thân quen với mỗi người dân Việt. Quả cau, miếng trầu không chỉ là đầu câu chuyện, là vật kết nối se duyên cho hạnh phúc trăm năm của mọi lứa đôi…….mà quả Cau, lá Trầu còn là phương thuốc hữu dụng trong mỗi gia đình.

Lá Trầu: Lá Trầu không có tác dụng kháng sinh rất mạnh đối với các loại vi trùng: Tụ cầu, Subtilit và trực khuẩn coli, có tác dụng hành khí, hoạt huyết, tiêu đờm, trừ phong thấp, tiêu viêm. Nhân dân ta thường dùng lá Trầu để trị đau bụng, đầy hơi, sôi bụng, ợ hơi… Cách làm như sau: Hơ nóng lá Trầu đắp lên rốn hoặc vào huyệt khí hải, thuỷ phân, dùng nhang hơ nóng phía trên.
Dùng lá Trầu để đánh gió, trị cảm mạo bằng cách vò nát lá Trầu không trộn với rượu bọc vào miếng vải chà sát hai bên sống lưng.
Dùng trị mụn nhọt bằng cách vò nát, đắp quanh mụn nhọt hoặc nấu nước tắm trị rôm sẩy, ghẻ ngứa.
Trị bệnh viêm chân răng do chất Polyphenol kháng khuẩn, diệt các tụ cầu, trực khuẩn coli.
Quả Cau: Có tính hạ khí, hành thuỷ thông đại tiểu trường. Dùng quả Cau chữa các chứng chương tích, chướng khí, tạ hạ và sát trùng. Vỏ quả trị thuỷ thũng, lợi tiểu. Hạt trị giun sán, bụng đầy chướng, tả lỵ. Người có bệnh thuộc “hư chướng” không nên dùng quả Cau, nếu dùng lầm có thể hại nguyên khí, hại ngầm cả âm huyết. Trong quả Cau có nhiều tanin, alcahoit, arecolin. Hạt Cau làm tê liệt thần kinh giun, sán, giun sán không bám vào thành ruột được mà bị đẩy ra ngoài. Dùng hạt Cau trị giun sán phối hợp với thuốc khác, Arecolin còn có tính làm chậm nhịp đập của tim.
Người ăn trầu không lo bị rối loạn tim mạch, ăn trầu còn có tác dụng kích thích sự tiêu hoá, góp cho dịch vị và dịch tràng tiết ra nhiều hơn. Những người ăn trầu ít bị đầy chướng, không ợ hơi, sình bụng và táo bón. Người ăn trầu ít bị nhiễm trùng đường ruột. Ăn trầu có tác dụng bảo vệ hàm răng. Lá Trầu có tính sát trùng làm chắc chân răng, không bị viêm sưng. Chất chát của Cau làm cho chân răng co lại, ôm sát chân răng cho hàm răng chắc, không lung lay. Nhai trầu chính là động tác luyện tập cho răng tốt hơn. Hạt Cau có tính trị giun nên ăn trầu ít bị nhiễm trùng đường ruột và ký sinh trùng đường ruột. Tuy nhiên, không nên lạm dụng ăn quá nhiều, ăn luôn miệng, vô ý làm phỏng niêm mạc miệng, ứa máu răng, môi nứt khô.
Nếu ăn trầu vài lần trong tuần sẽ trừ được một số bệnh thông thường về răng, tiêu hoá.
Caythuocquy.info.vn
Phật thủ trong đông y
Phật thủ còn gọi Phật thủ phiến, Phật thủ cam. Tên khoa học Citrus medica L. var svcodactylus SW. (Citrus medica L var digitata Riss.), thuộc họ Cam quýt (Rutaceae).

Quả Phật thủ có hình dáng nắm tay của phật. Trong Phật thủ có tinh dầu và một chất Flavonoit gọi là Hesperidive C25H21O15.
Phật thủ thường dùng để ăn, làm mứt hay làm thuốc. Phật thủ vị cay, hơi đắng và chua, tính ôn vào 3 kinh phế và tỳ, vị. Có công dụng lý khí – hành khí giải uất đối với các loại khí trệ, khí nghịch – thư can, chỉ thống – ngừng đau, cầm nôn mửa, mạnh tỳ chữa ho. Hương thảo làm tỉnh tỳ, lý khí, khai vị công năng rất tốt.
Về lâm sàng, Phật thủ chủ trị khí trệ ở can vị ngực bụng trướng đau. Phật thủ hương thơm, cay, tán, đắng giáng ôn, thông nên dùng chữa các chứng khí trệ can uất, can vị không hoà tạo nên các chứng hiếp can trướng thống, quản phúc (bụng), lí mẫn, nôn mửa ăn ít. Phật thủ thư can giải uất, trị chứng đàm (đờm) khí giao trở sinh ế cách, chửa tràng nhạc (bệnh lao hạch ở 2 bên cổ).
Theo “Dược tính chỉ nam” Phật thủ còn chữa được cả chứng đi lỵ bị rặn nhiều và chứng đau bụng hoắc loạn. Nhưng chứng lỵ đã lâu mà khí lực quá yếu mệt, không nên dùng nó.
Theo lâm sàng báo (Trung Quốc) Phật thủ chữa được tính truyền nhiễm của bệnh viêm gan trẻ em. Theo Giáo sư Đỗ Tất Lợi: Phật thủ dùng ngày từ 3 – 6 gam dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột.
Phật thủ rửa sạch, thái thành phiến, phơi khô ngâm với rượu, uống trước bữa ăn, có tác dụng chữa tỳ vị rất tốt.
Caythuocquy.info.vn