Posts tagged ‘thuốc chữa bệnh’

9 loại dược phẩm tác dụng chữa bệnh thấp hơn tác dụng phụ

Dưới đây là 9 loại dược phẩm được dùng theo đơn bác sĩ nhưng tác dụng chữa bệnh lại thấp hơn tác dụng phụ, được chính các hãng sản xuất cảnh báo.

1. Ambien

Công dụng của loại thuốc này để hỗ trợ giấc ngủ, nhưng tác dụng phụ của nó lại rất lớn, đặc biệt là những hành động diễn ra trong khi đang ngủ mà người trong cuộc không nhận biết. Như lái xe khi ngủ, ăn uống hay đi bộ khi ngủ. Ngoài ra, ambien còn gây chứng hay quên, có những hành vi bất thường như: kích động, hung hăng và ảo giác.

Với tác dụng phụ nói trên khi dùng phải có tư vấn của bác sĩ, không được dùng thuốc khi đã uống rượu, nếu mắc bệnh trầm cảm nặng cũng không nên dùng bởi nó làm tăng rủi ro quyên sinh. Dấu hiệu thường gặp là khó thở, sưng lưỡi, cổ họng và dị ứng, buồn ngủ vào ngày tiếp theo, chóng mặt, nhức đầu… Nếu xuất hiện các hiện tượng trên nên báo cho bác sĩ biết.

2. Enbrel

Enbrel là thuốc dùng chữa chứng viêm khớp và làm sạch vẩy nến. Phản ứng phụ là tăng bệnh lao và bệnh xơ cứng rải rác. Phản ứng thường gặp khi dùng enbrel là nhiễm trùng nghiêm trọng như: bệnh lao hoặc các loại bệnh xơ cứng rải rác do virút, nấm hoặc vi khuẩn, có thể lan rộng trên toàn thân, gây tình trạng rối loạn thần kinh như: động kinh, viêm dây thần kinh mắt và đôi khi phát triển cả bệnh rối loạn máu trầm trọng. Nếu xuất hiện các phản ứng phụ nêu trên cần được theo dõi đầy đủ. Trẻ nhỏ nếu dùng enbrel còn có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư hạch.

3. Chantix

Đây là loại thuốc dùng để cai nghiện thuốc lá nhưng phản ứng phụ không mong muốn là tăng tỷ lệ quyên sinh, bởi nó làm thay đổi tâm tính, hành vi làm tăng kích động, tạo ra tâm trạng chán chường, xuất hiện những ý nghĩ tiêu cực kể cả ý nghĩ tự tử trong khi hoặc sau khi đã thôi dùng thuốc. Những người có tiền sử bệnh tâm thần, nhất là tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực, trầm cảm thì khi dùng thuốc cần tư vấn của bác sĩ. Nếu xuất hiện tình trạng trên thì dừng thuốc ngay lập tức, tiến hành theo dõi và can thiệp cần thiết.

4. Avandia

Avandia được dùng để kiểm soát đường huyết ở người bệnh đái tháo đường. Các phản ứng phụ thường gặp khi dùng avandia là gây gãy xương, suy tim và làm tăng nguy cơ mang thai ở phụ nữ. Những người có tiền sử mắc bệnh tim cần thận trọng khi dùng avandia. Người ta khuyến cáo những người thường xuất hiện hiện tượng khó thở hoặc tức ngực thì không nên dùng hoặc trước khi sử dụng avandia cần cho bác sĩ biết nếu bản thân mắc bệnh tim, hoặc đang dùng thuốc cao huyết áp, cholesterol hoặc thuốc điều trị bệnh tim, dùng insuline hoặc các loại thuốc nitrate vì avandia không hợp với các loại thuốc này. Đang mắc bệnh về gan hoặc đang dùng thuốc rezuline (trogilazone), đang có thai hoặc chuẩn bị mang thai, nuôi con bằng sữa mẹ hoặc chuẩn bị nuôi con bằng sữa mẹ cũng không nên dùng avandia.

36999.jpeg

5. Mirapex

Mirapex là dược phẩm để điều trị bệnh hội chứng chân cẳng bất động nhưng phản ứng phụ thường gặp là gây ra căn bệnh ngủ kịch phát, bệnh ảo giác. Nó có thể khiến người bệnh rơi vào giấc ngủ mà không có dấu hiệu cảnh báo, kể cả khi đang làm việc bình thường như: khi lái xe, khi đang ngồi học… mồ hôi vã ra và sau đó buồn nôn. Ngoài ra, cũng có trường hợp sử dụng mirapex có thể gây chứng quên và nghiện cờ bạc. Những người nghiện rượu, nếu dùng mirapex có thể làm gia tăng các tác dụng phụ, đặc biệt là gây ra hiện tượng ngủ bất thường, ảo giác, chóng mặt và buồn nôn… Vì lý do này mà việc dùng thuốc nhất thiết phải theo đơn và khuyến cáo của các bác sĩ.

6. Accutane

Đây là loại thuốc dùng để điều trị bệnh trứng cá ở thể nặng nhưng phản ứng phụ rất nghiêm trọng, gây khuyết tật bẩm sinh và gia tăng nguy cơ quyên sinh. Phụ nữ khi mang thai dù sử dụng nhiều hoặc ít accutane, thậm chí cả khi ngưng uống thuốc cũng có thể làm tăng rủi ro khuyết tật khi sinh như sảy thai tự nhiên và sinh con thiếu tháng. Ngoài ra, accutane còn có thể làm tăng bệnh trầm cảm, rối loạn tâm thần và tuy rất hiếm xảy ra như: xuất hiện ý nghĩ quyên sinh, hung hăng và hành động bạo lực. Vì lý do này mà giới chuyên môn khuyến cáo phụ nữ trong giai đoạn sinh đẻ không nên dùng accutane.

7. Celebrex

Celebrex là loại thuốc trị chứng viêm khớp. Tác dụng phụ của celebrex là làm tăng nguy cơ đau tim hoặc đột quỵ dẫn đến tử vong. Ngoài ra còn xuất hiện những phản ứng phụ trên da, các loại bệnh liên quan đến dạ dày, ruột mà không hề có bất kỳ dấu hiệu báo trước. Vì vậy, khi dùng phải cho bác sĩ biết nếu đang mang thai, có tiền sử mắc bệnh dạ dày, cao huyết áp, suy tim, bệnh về gan, thận thì nên chuyển sang dùng thuốc khác, sử dụng liều thấp và dùng trong thời gian ngắn nhất.

8. Raptiva

Raptiva được kê đơn điều trị bệnh vảy nến nhưng nó có phản ứng phụ lớn hơn cả tác dụng chữa bệnh như làm suy giảm hệ miễn dịch, tăng bệnh viêm khớp, thậm chí có thể làm cho bệnh vảy nến thêm trầm trọng. Thực tế có trường hợp dùng raptiva đã làm cho bệnh viêm nhiễm thêm trầm trọng, buộc phải nhập viện, thậm chí có thể gây tử vong, mắc bệnh có tên là PML. Đây là căn bệnh hiếm gặp ở não do virút gây ra dẫn đến thiểu năng, tàn tật. Vì lý do trên, khi sử dụng cần tư vấn bác sĩ hoặc chuyển sang dùng các loại thuốc an toàn hơn.

9. Alli

Alli là loại thuốc không cần kê đơn dùng để giảm béo, nhưng làm tăng căn bệnh mất kiểm soát ruột, gây rối loạn các hoạt động của hệ thống tiêu hóa, người dùng alli thích ăn thực phẩm nhiều mỡ, phân đi lỏng và tần suất đi nhiều hơn mức bình thường. Tuy không nguy hiểm chết người nhưng khi dùng cần có kiến thức và được tư vấn đầy đủ. Nếu muốn giảm cân thì nên áp dụng liệu pháp tự nhiên để hạn chế những tác dụng phụ khó lường.

KHẮC HÙNG

Theo More

Tháng Tư 2, 2012 at 2:55 sáng Để lại phản hồi

Thời điểm dùng thuốc

Uống thuốc gì vào thời điểm nào là hợp lý phụ thuộc vào đồng hồ sinh học cơ thể con người. Vậy thời điểm nào là thích hợp nhất trong ngày để có thể uống thuốc điều trị một số bệnh nhất định. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Trường đại học New York, Hoa Kỳ đã có những lời khuyên cụ thể về lĩnh vực này như sau.

Uống thuốc trị huyết áp: Nên uống vào buổi sáng sớm hàng ngày lúc 7 giờ, vì huyết áp thường tăng lên đỉnh điểm vào buổi sáng sớm. Do vậy sẽ có lợi là ngừa đón đầu ngay cơn huyết áp có thể xảy ra vào thời điểm này trong ngày.

36998.jpeg

Uống thuốc trị viêm khớp mạn: Ban ngày khớp ít đau hơn ban đêm, như vậy uống thuốc trị viêm khớp mạn vào buổi trưa là thích hợp hơn cả vì ngoài khả năng kéo dài nồng độ thuốc còn có khả năng lưu giữ được trong cơ thể tới đêm khiến các cơn đau về đêm ít xảy ra hoặc có cũng giảm bớt sự đau đớn do bệnh sinh ra.

Uống thuốc trị cảm cúm: Tốt nhất là uống vào 16 giờ hàng ngày, bởi thời điểm này là cơn sốt và các triệu chứng của chứng cảm cúm thường xảy ra và là đỉnh điểm của bệnh. Do vậy cần uống ngay thời gian này hoặc trước đó một chút cũng được.

Uống thuốc trị ợ nóng: Nên uống vào 18 – 19 giờ hàng ngày sẽ thấy triệu chứng giảm tới 71% so với khi uống thuốc này vào buổi sáng trong ngày.

Uống thuốc trị cholesterol cao: Cần uống thuốc trị chứng bệnh này vào khoảng từ 19 – 21 giờ tối hàng ngày sẽ có hiệu quả trị liệu hơn. Vì người ta thấy rằng khi uống các loại thuốc trị chứng bệnh này vào ban ngày sẽ làm gia tăng đáng kể hàm lượng cholesterol xấu LDL.

BS. Hoàng Thanh Sơn

Tháng Tư 1, 2012 at 1:54 sáng Để lại phản hồi

Bệnh sán lá gan lớn và thuốc dùng

Sán lá gan là một ký sinh trùng sống ký sinh ở các động vật ăn cỏ như trâu, bò, cừu, dê… Chu kỳ sinh sản của sán lá gan lớn cần phải có môi trường nước và vật chủ trung gian là các loài ốc nước ngọt. Các loại động vật ăn cỏ ăn phải ấu trùng hoặc người không may ăn phải các loại rau, củ thủy sinh có chứa ấu trùng thì sẽ mắc bệnh sán lá gan lớn.

Ấu trùng sán lá gan có trong cá nước lợ và chủ yếu hơn là trong các loại rau sống trong nước (cải xoong, ngổ, rau om, rau cần, ngó sen, rau nhút…). Khi ăn gỏi cá, rau sống, ấu trùng xâm nhập vào dạ dày ruột, rồi tự lột lớp vỏ, xuyên qua màng ruột, theo máu vào gan, phát triển trong gan rồi sau đó định hình ở ống mật.

Người dân hay ăn gỏi cá, ăn sống các loại rau trồng hoặc mọc ở dưới nước có nguy cơ mắc bệnh sán lá gan lớn khá cao. Khi bị mắc bệnh sán lá gan lớn, bệnh nhân thường thấy các biểu hiện như toàn thân mệt mỏi, biếng ăn, gầy sút, thiếu máu nhẹ, sốt thất thường hay sốt cao. Đối với hệ tiêu hóa thường thấy đau bụng, đầy bụng, buồn nôn, chán ăn, ăn khó tiêu, xuất huyết tiêu hóa, gan to, vàng da… Các triệu chứng khác thấy kèm theo như bị ban đỏ dị ứng, đau khớp, đau cơ, ho, tràn dịch màng phổi, màng bụng, cũng có thể bị tổn thương ở những nơi sán ký sinh lạc chỗ như khớp, vú, cơ… Khi người bệnh có các biểu hiện của một tình trạng nhiễm khuẩn, viêm túi mật, áp-xe gan đồng thời lại có tiền sử ăn rau sống, rau tái, đặc biệt là ở các vùng đang có bệnh lưu hành thì cần nghĩ đến bệnh sán lá gan lớn.

36996.jpeg

Chu trình phát sinh và phát triển của sán.

Thuốc điều trị bệnh sán lá gan lớn

Triclabendazole (biệt dược egaten của Thụy Sĩ) là dẫn xuất của benzimidazole. Triclabendazol (TCB) ngăn cản quá trình phosphoryl-ôxy hóa ở ty lạp thể, làm cho sán không kiểm soát được hô hấp, đồng thời gắn kết với các phân tử tubulin ngăn cản quá trình hình thành vi ống ở sán. Từ đó, sán bị tê liệt rồi chết. TCB có hiệu lực với sán lá gan lớn trong giai đoạn non và trưởng thành. Ngoài ra, thuốc cũng có tác dụng điều trị cả bệnh sán lá phổi Paragonimus.

Sử dụng TCB để điều trị bệnh sán lá gan lớn với liều lượng tùy theo trọng lượng của từng bệnh nhân. Viên thuốc có hàm lượng 250mg, loại viên nén có vạch và dễ bẻ thành hai nửa bằng nhau để thuận tiện trong việc chia liều chính xác. TCB dùng đường uống, sau khi ăn no, nuốt cả viên với một ít nước, không nhai. Nếu bệnh nhân không có dấu hiệu thuyên giảm, cần điều trị tiếp lần 2. Nếu sau 60 ngày không hết triệu chứng, dùng thêm 1 lần. Có thể điều trị hỗ trợ thêm bằng thuốc kháng sinh có phổ diệt khuẩn rộng để chống bội nhiễm, thuốc hạ sốt, giảm đau… Bảo đảm chế độ ăn uống, bồi dưỡng hợp lý để bổ sung năng lượng cho bệnh nhân. Trong quá trình điều trị phải theo dõi diễn biến của bệnh để đánh giá kết quả. Cần kiểm tra bằng xét nghiệm siêu âm chẩn đoán và thử nghiệm test Elisa trước và sau điều trị vào các ngày thứ 1 đến thứ 7, ngày 15, 30 và 60. Thời gian theo dõi để tránh tái nhiễm từ 6 tháng đến 1 năm.

Khi có triệu chứng nghi ngờ bị sán lá gan, cần đi khám tại các cơ sở chuyên khoa ký sinh trùng. Nếu phát hiện bệnh, cần điều trị triệt để, tránh lây nhiễm cho cộng đồng. TCB là loại thuốc được ưu tiên lựa chọn vì có hiệu quả và ít tác dụng phụ. Nếu có viêm tắc đường mật, phải phối hợp kháng sinh và phẫu thuật. Các thuốc điều trị sán lá gan trước đây như emetin, dehydroemetin, chloroquin, albendazole, mebendazole… hiện nay không dùng nữa do hiệu quả kém hoặc độc tính cao.

36997.jpeg

TCB không gây độc nghiêm trọng, chỉ thấy mệt, suy nhược, đau ngực, sốt, buồn nôn, ói mửa, đau thượng vị, đau hạ sườn phải, gan to, rối loạn nhẹ chức năng gan (enzym ASAT, ALAT, phosphatase kiềm tăng), đau vùng túi mật, vàng da (bilirubin toàn phần tăng). Những hiện tượng này có thể do sán tê liệt phóng thích ra kháng nguyên hơn là do bản thân thuốc. Một số biểu hiện khác hiếm gặp hơn: ngủ gà, ngứa, đau lưng, ho, khó thở. Dự kiến có cơn đau nặng ở đường mật do sán bị tống ra khi dùng thuốc nhưng trong thực tế thường chỉ thấy đau nhẹ vùng đường mật hoặc không thấy đau. Một vài nghiên cứu mới đây của nhà sản xuất nhận thấy thuốc gây quái thai trên súc vật (với liều quy ra gấp 10 lần liều dùng trên người) nhưng chưa ghi nhận được trường hợp quái thai nào ở người. Chưa có thông tin đầy đủ về việc thuốc tiết qua sữa. Chưa xác định được tính an toàn cho trẻ nhỏ. Không nên dùng thuốc cho người có thai, cho con bú, trẻ dưới 6 tuổi. Tùy từng trường hợp có thể phối hợp với thuốc chống co thắt (để giảm đau, tránh vàng da), prednisolon (trong trường hợp cấp hay có biểu hiện nhiễm độc do kháng nguyên Fasciola), kháng sinh (dự phòng nhiễm khuẩn do tổn thương đường mật). Không dùng cho người bị mẫn cảm với TCB hay với các dẫn chất bendazol. TCB có thể gây tán huyết (thận trọng với người thiếu men glucose-6-phophat-deshydrogenase).

Để phòng bệnh sán lá gan lớn

Không ăn thịt, gan hoặc lòng gia súc chưa nấu chín kỹ. Do ốc là vật chủ trung gian và ăn rau sống hay ăn các loại cây thủy sinh là căn nguyên mắc bệnh nên biện pháp dự phòng đơn giản nhất là không ăn rau sống, các loại rau, cây thủy sinh như cải xoong, rau diếp, húng, mùi tây, ngổ, cá gỏi, nhất là những vùng dân cư còn sử dụng phân chuồng trong sản xuất nông nghiệp, uống nước trực tiếp từ sông suối không qua nấu chín, vì sán lá gan xâm nhập vào cơ thể thông qua đường tiêu hóa.

ThS. Lê Quốc Thịnh

Tháng Ba 30, 2012 at 11:13 chiều Để lại phản hồi

Dùng thuốc kháng sinh chống nấm

Để điều trị bệnh nhiễm vi nấm nói chung, kể cả bệnh nấm phát triển trong nội tạng hiện nay đã có những thuốc chữa rất hiệu quả. Trong số đó phải kể tới các thuốc kháng sinh chống nấm.

Trong nhiều công trình nghiên cứu kháng sinh chống nấm, người ta đã tìm ra một số loại kháng sinh khắc phục được những cản trở (của vi nấm gây bệnh) để tìm ra được thuốc kháng nấm đặc hiệu. Những kháng sinh này thấm qua được màng tế bào có vỏ chitin của nấm gây bệnh, để phát huy tác dụng điều trị.

Kháng sinh nystatin

Là kháng sinh kháng nấm được phân lập từ môi trường nuôi cấy Streptomyces noursei, dưới dạng bột màu vàng hoặc vàng nâu nhạt, dễ hút ẩm, ít tan trong nước, ít tan trong cồn. Nystatin có tới mấy chục biệt dược (tên thương mại) như: biofanal, candex, mycostatin, nystafungin, stamicin… dưới dạng viên nén hoặc bọc đường, dịch treo súc miệng, viên đặt hậu môn hoặc âm đạo, kem dùng ngoài, thuốc rửa, thuốc mỡ… Nystatin có nhiều tác động phối hợp kích thích nhu cầu sử dụng ôxy, làm giảm dự trữ đường và polyphosphat, làm mất kali và phospho, làm rối loạn thẩm thấu màng tế bào của nấm bệnh, phát huy tác dụng điều trị.

Mặc dù trong phòng thí nghiệm, nystatin có tác dụng với nhiều loại nấm, nhưng do chỉ có nystatin uống và điều trị tại chỗ, lại không hấp thu vào máu nên chỉ định chính của nystatin chủ yếu là điều trị nấm ở niêm mạc, nhất là do Candida albicans ở phổi, thực quản, ruột, dùng phối hợp với kháng sinh có hoạt phổ rộng trong thời gian khá dài. Với nhiễm Candida ở âm đạo, cần điều trị cả vợ và chồng (hoặc bạn tình) để tránh tái nhiễm. Dùng thuốc bôi, phải giữ gìn da và niêm mạc thật sạch để tránh lan rộng và tái nhiễm.

36995.jpeg

Môi trường nuôi cấy streptomyces tạo ra kháng sinh kháng nấm.

Amphotericin B

Kháng sinh này được chiết xuất từ môi trường nuôi cấy chủng Streptomyces nodosus, có cấu trúc polyen. Cơ chế tác dụng tương tự nystatin. Amphotericin B có các biệt dược: ambisome, amphocydin, fungilin… với các dạng bào chế thuốc viên uống, viên đặt âm đạo, thuốc tiêm tĩnh mạch, thuốc mỡ, kem bôi…

Chỉ định điều trị của thuốc rất rộng trên hầu hết các loại nấm Candida, Hitoplasma, Cryptococcus, Aspergillus. Tiêm, truyền tĩnh mạch thường được dùng trong các nhiễm khuẩn huyết do Candida, nhiễm khuẩn phủ tạng sâu (ví dụ Aspergillus ở gan, phổi…) và nhiễm Cryptococcus neoformans ở não, màng não. Thời gian dùng phụ thuộc vào mức độ nhiễm nấm.

Griseofulvin

Là kháng sinh kháng nấm được phân lập từ môi trường nuôi cấy Penicillium griseofulvum, với các biệt dược: gricin, grisavin, greosin, fungivin, lamoryl… dưới dạng bào chế viên nén, dịch treo uống, thuốc mỡ. Griseofulvin có tác dụng ức chế tổng hợp acid nucleic và sự phân bào của nấm bệnh, chủ yếu là để điều trị nấm da, kẽ ngón chân tay, tóc, lông, móng (microsporum, trichophyton) bởi thuốc thâm nhập vào da rất tốt, vào keratin của lông, móng rất cao.

Nói chung, khi mắc bệnh do vi nấm gây ra cần phát hiện, khám tỉ mỉ và điều trị sớm, điều trị đúng và triệt để sẽ có hiệu quả rất tốt.

BS. Vũ Hướng Văn

Tháng Ba 29, 2012 at 8:34 chiều 1 comment

Thuốc trị liệt vận động do nguyên nhân thần kinh

Liệt vận động do nguyên nhân thần kinh là một vấn đề thường gặp trong thực hành lâm sàng ở nhiều chuyên khoa: thần kinh, nhi khoa, nội khoa, ngoại khoa… Bệnh nhân có thể bị bại liệt vận động ở một chi, nửa người, hai chân hoặc tứ chi với các mực độ nặng nhẹ khác nhau.

GS.TS. Lê Đức Hinh (Chủ tịch Hội thần kinh học Việt Nam) cho biết, nguyên nhân gây bệnh có thể do nhiễm khuẩn (vi khuẩn, virut hướng thần kinh, ký sinh vật), nhiễm độc (kim loại nặng, thuốc men, chất độc hóa học, ma túy…), rối loạn dinh dưỡng và chuyển hóa (thiếu vitamin B1, B12, đái tháo đường…), chấn thương hệ thần kinh, khối u hệ thần kinh, các bệnh mạch máu ở não, tủy sống, các bệnh thoái hóa, các bệnh hệ thống…

36994.jpeg

Luyện tập phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân.

Hiện nay có rất nhiều hướng để xử trí liệt vận động như điều trị nội khoa, phẫu thuật, chỉnh hình, phục hồi chức năng, y học cổ truyền…

Thuốc được dùng trong điều trị như: các thuốc giảm đau, vitamin (vitamin B1, B6, B12), các thuốc giãn cơ (mephenesin, chlorphenesin, diazepam…), thuốc phong bế tiêm cục bộ (phenol, độc tố botulinum A)…

Các thuốc điều trị di chứng liệt vận động có thể sử dụng: benzadol (có tác dụng đối với di chứng bại liệt polio và một số bệnh lý rễ và dây thần kinh do viêm), galantamin (là alcaloid chiết xuất từ cây Galantus nivalis có tác dụng đối với di chứng bại liệt polio, viêm rễ và viêm dây thần kinh, loạn dưỡng cơ tiến triển).

Theo GS.TS. Lê Đức Hinh, muốn xử trí đúng liệt vận động cần thăm khám lâm sàng kết hợp với các thăm dò chức năng và xét nghiệm cận lâm sàng giúp xác định nguyên nhân và chỉ ra hướng xử trí thích hợp.

Phương Hà (ghi)

Tháng Ba 29, 2012 at 3:54 sáng Để lại phản hồi

Older Posts


Bài viết mới

Bài viết bổi bật


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.